Thiết kế mỹ thuật cần đổi mới và phát triển

thuan-1

IVAN KRAMSKOI (1837-1887) – Người đàn bà xa lạ. Sơn dầu. 1883. 75,5x99cm
(Phần 2)

Đào tạo thiết kế mỹ thuật của chúng ta hiện nay không theo sát nhu cầu xã hội, đã quá rõ ràng. Không có những hội thảo khoa học đào tạo mỹ thuật thường xuyên, con đường phát triển nền mỹ thuật sẽ không có lối thoát. Cuộc sống luôn phát triển đòi hỏi hoạt động đào tạo mỹ thuật cũng luôn thay đổi cho phù hợp với nhu cầu thẩm mỹ của thời đại. Khi thấy triển lãm mỹ thuật ít người xem, tác phẩm rất ít người mua, các nhà quản lý, các nhà giáo, nhà khoa học mỹ thuật của cơ sở đào tạo đại học mỹ thuật phải thấy đó là nguy cơ tiềm ẩn cần có giải pháp hữu hiệu nào đó. Nguyên nhân có thể từ người sáng tác, cũng có thể từ phía người tiêu dùng nghệ thuật. Làm rõ được nguyên nhân đó mới có giải pháp thích hợp. Nếu không làm gì cả thì người thiệt hại đầu tiên chính là người sáng tác mỹ thuật và Hội mỹ thuật Việt Nam cũng mất đi chỗ dựa.

Vấn đề chuẩn hóa giảng viên, ở Nga đội ngũ giảng viên không có nghỉ hưu, làm việc với tính chuyên nghiệp cao, lĩnh vực nghiên cứu hẹp. Về lý luận, giảng viên phải dành cả đời nghiên cứu một lĩnh vực hẹp nào đó. Những lĩnh vực nghiên cứu chuyên biệt như vậy sẽ trở thành tư liệu bài giảng trong các cơ sở đào tạo mỹ thuật. Về sáng tác, các họa sĩ nổi tiếng trực tiếp giảng dạy với thể loại tác phẩm sở trường tại xưởng sáng tác chuyên ngành. Từ đó sẽ hình thành các xưởng đào tạo chuyên ngành như đào tạo họa sĩ chân dung, họa sĩ tranh sinh hoạt, họa sĩ tranh hoành tráng… Cũng từ đó người thầy không có thành tích nghiên cứu sáng tác, không nổi tiếng không được phân công giảng dạy. Hệ thống đào tạo của Liên Xô (cũ) đòi hỏi sự bao cấp, trợ giúp của nhà nước rất lớn. Đó cũng là ưu thế của hệ thống đào tạo niên chế. Ở các nước tư bản, hệ thống đào tạo tín chỉ có khác. Lâm Nguyễn, họa sĩ việt kiều giảng dạy đại học mỹ thuật tại Hoa Kỳ có chia sẻ, để được tuyển dụng, ứng viên phải có khả năng hình họa nghiên cứu sâu, vững vàng. Đó là tiêu chuẩn tối thiểu của giảng viên mỹ thuật. Trường đại học mỹ thuật đó sẽ ký hợp đồng với giảng viên từng năm. Năm không giảng dạy hưởng 40% lương nhưng phải tự làm dự án về mỹ thuật để nâng cao thành tích cá nhân. Họ làm như vậy vì phải nâng cao trình độ bản thân và thương hiệu trường đại học mỹ thuật của họ. Các trường mỹ thuật phải cạnh tranh trên cơ sở những giảng viên tài năng để có sinh viên lựa chọn nơi học tập. Đó cũng là cách các cơ sở đào tạo mỹ thuật chuẩn hóa trình độ giảng viên. Sinh viên được rơi vào những cơ sở đào tạo mỹ thuật có uy tín như vậy sẽ rất tự hào và không cố gắng mới là chuyện lạ.

Vấn đề chuẩn hóa trình độ sinh viên cũng rất quan trọng. Ở Mỹ coi trọng kết quả cuối cùng, ở Liên Xô (cũ) coi trọng tuyển sinh đầu vào và quá trình học tập các học phần nghiên cứu căn bản. Tôi chứng kiến 2 trường hợp sơ tuyển đầu vào: Một thí sinh tốt nghiệp trung cấp mỹ thuật từ xa tới vì đi máy bay nên chỉ mang 2 tác phẩm trình trước hội đồng sơ tuyển. Vì ít tác phẩm quá không đủ điều kiện sơ tuyển sinh và em phải đợi năm sau khi hội đủ số lượng tác phẩm để có thể hội đồng đánh giá được năng khiếu tham gia sơ tuyển. Trường hợp khác thí sinh trình những bài nghiên cứu và sáng tác có kỹ thuật như cách thí sinh luyện thi vào trường kiến trúc cũng bị loại trước hội đồng sơ tuyển khoa hội họa vì hội đồng đánh giá thí sinh đó không có khả năng phát triển, đành trở về làm giáo viên của trường trung cấp mỹ thuật. Có sinh viên hội họa vì phải làm thêm kiếm tiền nên môn hình họa nghiên cứu không đủ thời gian học tập, bị điểm kém. Năm tiếp theo em sinh viên đó phải bỏ việc làm thêm, tập trung nghiên cứu hình họa nghiêm túc để không bị điểm kém tránh được bị đuổi học. Cách làm của họ, sinh viên không cố gắng sẽ bị loại trước khi làm bài thi tốt nghiệp. Cách làm của chúng ta, có đầu vào sẽ có bằng tốt nghiệp và đủ chuẩn để xin việc. Chúng ta cứ đào tạo, nói mãi chuyện sinh viên ra trường làm thầy không được, làm thợ không xong và chẳng khi nào tìm cách thay đổi nó. Thậm chí làm thợ không được thì tìm cách làm thầy.

Bà Drew G. Faust trong diễn văn nhậm chức Hiệu trưởng trường Đại học Harvard trình bày: Tinh hoa nằm ở chỗ đại học chỉ chịu trách nhiệm với quá khứ và tương lai của dân tộc. Đối với tương lai, giáo dục, nghiên cứu, giảng dạy luôn luôn nhắm vào thay đổi, biến đổi cá nhân khi họ học, biến đổi thế giới khi khám phá của ta thay đổi cái biết của ta về nó, biến đổi xã hội khi hiểu biết của ta được diễn dịch thành chính sách … Phát triển hiểu biết tức là thay đổi. Đại học còn là nơi duy nhất mà triết gia sống chung với nhà khoa học. Đại học là không gian của sự thật. Tự chúng ta làm cho nó chết; tự chúng ta làm cho nó sống.

thuan-2

Một tác phẩm của họa sĩ PINO DAENI người Ý (1939-2010)


Chính vì vậy, cơ sở đào tạo mỹ thuật là nơi có thể tranh luận, tranh cãi, làm cho nó luôn thay đổi theo hướng phát triển bền vững. Nếu thừa nhân đào tạo mỹ thuật Việt Nam có nhiều bất cập, phải có sự thay đổi. Thay đổi cơ sở vật chất không được thì phải giảm quy mô đào tạo. Thay đổi chất lượng giảng viên không được thì phải buộc thôi việc những giảng viên không đủ uy tín và tài năng hoặc tạo dựng những công việc thực hành để những giảng viên không đủ khả năng giảng dạy có thể đến đó rèn nghề trước khi bước lên bục giảng. Sự thay đổi đó là cần thiết cho sự phát triển.

Nội dung chương trình đào tạo mỹ thuật có vai trò quan trọng trong việc hình thành nhận thức của sinh viên mỹ thuật. Có rất nhiều học phần cần bàn, cần trao đổi một cách khoa học. Giải phẫu tạo hình là lĩnh vực nghiên cứu quan trọng trong trường mỹ thuật. Các học viện mỹ thuật nước ngoài, trường Cao đẳng Mỹ thuật Đông Dương xưa đều do bác sĩ dạy. Các cơ sở đào tạo mỹ thuật của chúng ta hiện nay đều do họa sĩ dạy. Bác sĩ hay họa sĩ, ai là người cung cấp kiến thức cơ sở giải phẫu tạo hình cho sinh viên mỹ thuật tốt hơn cũng nên trao đổi thông qua hội nghị khoa học đào tạo. Mỹ học là triết học về nghệ thuật (Hegel). Mỹ học nghiên cứu mối quan hệ thẩm mỹ của nghệ sĩ đối với sáng tạo của họ. Rất nhiều nhà triết học đã đã dành nhiều thời gian nghiên cứu nghệ thuật và trở thành nhà mỹ học. Lưu học sinh Việt Nam từ trường Lý luận Nghiệp vụ của Bộ Văn hóa Thông tin cử sang Liên Xô (cũ) học Mỹ học. Tới đất bạn vì không có bằng Triết học nên họ không cho học Mỹ học và phải đành học ngành khác. Khoa Triết của Đại học Quốc gia Hà Nội đã từng xây dựng mã ngành Mỹ học, Bộ Giáo dục và Đào tạo chưa cho phép nên khoa Triết vẫn cử giảng viên Triết đi dạy Mỹ học trong các trường nghệ thuật. Các trường mỹ thuật Liên xô (cũ) có học những môn Lịch sử học thuyết mỹ học, Mỹ học Mác – Lê và Việt Nam nếu có sáng tạo, có thể xây dựng học phần “Mỹ học Hồ Chí Minh”, còn “Mỹ học chuyên ngành” không biết nên hiểu thế nào. Nên chăng môn học “Nhập môn nghệ thuật tạo hình”, “Mô tả và phân tích tác phẩm” mà tôi đã học cũng dựa vào mỹ học rất nhiều và đưa vào nội dung chương trình sẽ thiết thực hơn. Mỹ học là cơ sở lý luận để các nhà lý luận nghệ thuật phân tích đánh giá tác phẩm nghệ thuật. Người sáng tác có thể dựa vào học thuyết mỹ học của nhà mỹ học nào đó để chủ động sáng tác. Để chuẩn bị cho sinh viên mỹ thuật ra trường khẳng định nghề và sống được bằng nghề, nên xem lại hiệu quả những học phần đang học và nên có những học phần: Kinh tế mỹ thuật, Tâm lý học mỹ thuật, Kỹ thuật chất liệu nghệ thuật và Phục chế tác phẩm… Như thế nào là tốt nhất cho sinh viên cũng nên suy nghĩ cho thấu đáo và có tranh luận trong những hội nghị khoa học đào tạo, vì đó chính là thương hiệu của cơ sở đào tạo.

Kết luận

1. Cuối cùng, chúng ta thấy gì thông qua các sản phẩm của cơ sở đào tạo tốt nghiệp đại học mỹ thuật sau khi ra trường. Xã hội ngày nay phân hóa rất sâu sắc. Số ít sinh viên tài năng tốt nghiệp đại học mỹ thuật gắn bó với nghề và hoạt động mỹ thuật chuyên nghiệp, được giới sưu tập quan tâm và sống giầu có bằng nghề sáng tác mỹ thuật của mình. Số lượng lớn sinh viên tốt nghiệp còn lại phải dựa vào một công việc kiếm sống nào đó để tồn tại. Không ai xót xa về thực trạng này nên cứ động viên nhau sáng tác những tác phẩm mà xã hội không có nhu cầu. Chính vì vậy, vai trò của cơ sở đào tạo đại học mỹ thuật rất lớn trong việc đổi mới toàn diện. Dù sao, hình họa nghiên cứu, tượng tròn vẫn là môn học căn bản và những tác phẩm đề tài xã hội, chân dung, phong cảnh, tĩnh vật vẫn là những bài tập sáng tác chuyên khoa và nếu mỗi bài tập đó, sinh viên không làm việc nghiêm túc thì công chúng nghệ thuật không muốn thưởng thức và không muốn sở hữu nó, con đường tương lai của sinh viên sẽ bế tắc. Như vậy, cơ sở đào tạo đại học mỹ thuật phải có mối quan tâm đặc biệt đối với thị trường mỹ thuật như một lĩnh vực nghiên cứu khoa học. Trong trường hợp này, vai trò của cơ sở đào tạo đại học mỹ thuật định hướng vẽ cái gì, vẽ như thế nào là rất quan trọng. Những bài tập sáng tác đó phải được thị trường chấp nhận thì cơ sở đào tạo đại học mỹ thuật mới có ý nghĩa.

2. Những người tiêu dùng tác phẩm mỹ thuật Việt Nam phần đông mua tác phẩm để trang trí nội thất nên họ chỉ quan tâm đến giá tiền tác phẩm chứ ít quan tâm đến giá trị nghệ thuật tác phẩm làm cho giá bán tác phẩm bị khống chế. Những người được coi là các nhà sưu tập tác phẩm, có thu nhập cao trong các lĩnh vực kinh doanh của mình, có hiểu biết sâu sắc văn hóa nghệ thuật và sưu tập tác phẩm vì đam mê nghệ thuật, vì chắc chắn trong tương lai những tác phẩm đó có giá trị cao. Tham vọng của các nhà sưu tập rất lớn, nếu tư duy nghệ thuật của người sáng tác không thỏa mãn nhu cầu của các nhà sưu tập là cung cầu không gặp nhau. Cơ sở đào tạo đại học mỹ thuật phải coi đây là cơ sở kinh tế nghề nghiệp để định hướng cho từng đối tượng sinh viên, yêu cầu đối với giảng viên và hoàn thiện hệ thống quản lý, cơ sở vật chất. Nếu coi hoạt động sáng tác mỹ thuật là một nghề, phải thừa nhận có thị trường mỹ thuật, thị trường mỹ thuật cao cấp và thị trường mỹ thuật bình dân. Trong quá trình lao động nghệ thuật, người sáng tác không có khả năng định hướng được giá trị tác phẩm của mình cho thị trường nghệ thuật, có nghĩa là làm nghệ thuật nửa vời. Vẽ chân dung giống và chân dung nghệ thuật là 2 mục tiêu giá trị khác nhau, người họa sĩ phải ý thức nghề nghiệp trong quá trình sáng tác. Việt Nam có khoảng 5 triệu người có thu nhập cao, dư sức mua tác phẩm mỹ thuật với giá cao mà không ảnh hưởng tới công việc kiếm tiền, nhưng chỉ có khoảng 500 người thực sự mua tác phẩm vì nhu cầu đam mê nghệ thuật, những người được coi là nhà sưu tập thì ít hơn nhiều. Làm cho người tiêu dùng tác phẩm mỹ thuật quan tâm tới hoạt động sáng tác mỹ thuật, sẽ khai thông được thị trường mỹ thuật hiện nay. Trong trường hợp này vai trò của các nhà nghiên cứu lý luận phê bình mỹ thuật là rất quan trọng trong việc hình thành các loại thị trường mỹ thuật.

3. Vấn đề đánh giá, đầu tiên, cơ sở đào tạo đại học mỹ thuật phải tiêu chuẩn hóa bài sáng tác chuyên khoa. Trong hội đồng chấm thi bài sáng tác chuyên khoa phải có các nhà lý luận nghệ thuật, nhà kinh tế mỹ thuật. Kết thúc hội đồng đánh giá phải tạo sàn giao dịch để các nhà đầu tư, người tiêu dùng nghệ thuật có cơ hội sở hữu tác phẩm, kích thích tâm lý tiêu dùng tác phẩm. Những bài không được chọn mua, hoặc điểm kém của sinh viên phải được xem sinh viên đó không đủ tiêu chuẩn tiếp tục học tập và không có cơ hội tốt nghiệp. Việc tổ chức đánh giá bài sáng tác chuyên khoa rất quan trọng giúp cho sinh viên nhìn lại bản thân, tự đánh giá năng khiếu của mình và người tiêu dùng tác phẩm mỹ thuật có chỗ dựa đưa ra quyết định sở hữu tác phẩm. Trong chuỗi giá trị tác phẩm, người giám tuyển, nhà nghiên cứu, nhà đầu tư nghệ thuật là những mắt xích quan trọng nhất.

Một trong những tiêu chí giá trị quan trọng của tác phẩm mỹ thuật là hiếm. Các trường phái mỹ thuật đã đi vào lịch sử trở thành tiêu chuẩn giá trị. Những tác phẩm đầu tiên đại diện cho trường phái mỹ thuật thì vô giá, nhưng những tác phẩm ăn theo thì thiệt thòi hơn. Vì thế tác phẩm mỹ thuật đương đại sáng tác theo tinh thần của các trường phái đã được khẳng định trong lịch sử, chẳng hạn sáng tác theo chủ nghĩa cổ điển (thế kỷ XVII-XVIII) không thể có giá trị cao được. Cũng vậy, tác phẩm sáng tác theo phong cách chủ nghĩa ấn tượng, lãng mạn, biểu hiện, trừu tượng, siêu thực… không còn hiếm nữa, xếp sau hàng triệu tác phẩm làm cho giá trị kinh tế của tác phẩm gần với giá sản phẩm mỹ nghệ. Tiêu chí thứ hai là độc đáo. Để có được chất tác phẩm độc đáo, tác giả cũng phải sáng tác chăm chỉ hàng chục năm, tạo ra hàng trăm tác phẩm. Mỗi tác giả tự biết lao động nghệ thuật của mình và cũng tự đánh giá chất lượng tác phẩm của mình. Tiêu chí giá trị thứ ba là bản sắc văn hóa dân tộc. Tiêu chí giá trị tiếp theo là những tri thức tiềm ẩn trong tác phẩm… Chính vì vậy để làm ra tác phẩm có giá trị, tác giả phải có tài năng, lao động nghệ thuật nghiêm túc. Giám tuyển của các tổ chức đấu giá tác phẩm mỹ thuật cũng dựa vào những căn cứ giá trị đó để tiếp nhận tác phẩm. Tác phẩm của nhiều tác giả Việt Nam không được tham gia sàn giao dịch, không nên hỏi tại sao !

4. Vấn đề thương hiệu đào tạo mỹ thuật chỉ có thể được khẳng định khi người tiêu dùng tác phẩm nghệ thuật mong muốn sở hữu bài sáng tác chuyên khoa của sinh viên mỹ thuật. Đào tạo đại học mỹ thuật là đào tạo nghề, nếu như các bài tập sáng tác chuyên khoa có giá trị kinh tế, cơ sở đào tạo đó có thương hiệu. Đó là tài sản vô hình. Ở các học viện mỹ thuật lớn trên thế giới, mỗi khi sinh viên đi vẽ thực tế, các nhà kinh doanh tác phẩm tới chọn mua tác phẩm, kích thích tinh thần rèn luyện học tập của sinh viên rất lớn. Trong quá trình đổi mới đào tạo, để khẳng định thương hiệu cơ sở đào tạo đại học mỹ thuật cũng nên loại bớt những sinh viên không có khả năng học tập và những giảng viên không đủ uy tín, tài năng mỹ thuật. Trong cơ sở đào tạo đại học mỹ thuật rất cần thiết có lãnh đạo cấp cao chịu trách nhiệm bảo vệ thương hiệu đào tạo với chương trình nội dung cụ thể.

5, Vấn đề sáng tạo nghệ thuật là vấn đề phức tạp. Người ta đã từng khái niệm nghệ thuật là vô dụng. Tác phẩm mỹ thuật có thể là hữu hình hoặc vô hình, là tĩnh hoặc chuyển động, là vật thể hoặc phi vật thể, là sản phẩm vật chất được tạo ra bởi nghệ sĩ… Nói chung sáng tạo nghệ thuật có nghĩa là tạo một sản phẩm nghệ thuật mới, nghĩa là trước kia sản phẩm nghệ thuật đó chưa có. Sự khai sinh trường phái mỹ thuật chỉ xuất hiện ở những nền văn hóa lớn, chưa thấy có ở Việt Nam. Chúng ta cũng không nên hy vọng sáng tạo cho thế giới một chủ nghĩa mỹ thuật trong tương lai. Tuy vậy, để có tác phẩm mỹ thuật xứng tầm thời đại thế kỷ XXI cần đổi mới đào tạo như trên đã phân tích. Ít nhất những tác phẩm mỹ thuật thời hội nhập cũng phải đạt được những tiêu chí: ý tưởng tốt, không lặp lại những trường phái đã diễn ra trong quá khứ, làm chủ kỹ thuật chất liệu, bố cục tác phẩm có tri thức tiềm ẩn là điều chúng ta có thể làm được.

Tác phẩm của Pino Daeni (1939-2010) rõ ràng hình và màu đều đẹp. Để vẽ được tác phẩm như thế, tác giả nghiên cứu hình họa cơ bản phải rất tốt. Ý tưởng tác phẩm rất rõ vẻ đẹp tiềm ẩn chưa được khai thác. Nền tranh như cố ý chưa hoàn thiện làm cho tác phẩm không bị lặp lại những trường phái mỹ thuật trong lịch sử. Loại tác phẩm này sống được ở thế kỷ XXI

Tác phẩm Người đàn bà xa lạ của Ivan Kramskoi (1837-1887) trên cơ sở phác thảo cô gái 17 tuổi. Trong quá trình vẽ, tác giả nảy ý định đẩy lên thành phụ nữ quý tộc thành phố cố đô Saint Petersburg. Để phù hợp ý tưởng tác phẩm, tác giả đã vẽ thêm ghế xe ngựa và thành phố mờ hơi sương của thành phố biển phương bắc ẩm ướt đúng như nó vốn có. Cô gái trở thành mệnh phụ phu nhân đẹp, sang trọng, quý phái đúng như phong cách xã hội quý tộc tiền tư bản. Phác thảo gốc cô gái hiện nay lưu giữ tại Tretyakov Gallery. Tác phẩm sáng tác theo tinh thần chủ nghĩa cổ điển, nhưng chủ nghĩa cổ điển phải là con người danh nhân cụ thể (đề tài chủ nghĩa cổ điển thế kỷ XVIII), còn đây là con người hình tượng (thời đại cuối thế kỷ XIX của nước Nga) cũng được gọi là có sáng tạo. Sau đó, thời cách mạng xã hội chủ nghĩa phát triển loại tác phẩm sáng tạo những con người lao động tập thể chung chung gọi là phong cách hiện thực xã hội chủ nghĩa mà nhiều tác giả đã sáng tạo. Theo quy trình sáng tạo này, thế kỷ XXI, có rất nhiều đối tượng sáng tác, người nghệ sĩ có thể sáng tạo được những tác phẩm có giá trị.

Thế kỷ XXI, trình độ dân trí cao, có nhiều nhu cầu tiêu dùng tác phẩm. Công chúng nghệ thuật có nhiều điều kiện hiểu được công việc sáng tạo của nghệ sĩ và phân biệt được giá trị thực của tác phẩm. Tác giả không đánh giá đúng giá trị tác phẩm, huyễn hoặc tài năng bản thân, đẩy giá trị tác phẩm lên cao là tự làm khó bản thân. Đây cũng là lý do làm cho nền mỹ thuật phát triển không bền vững. Đổi mới đào tạo, cũng phải có tầm nhìn, đổi cái gì, cái gì cũ cần giữ và cái gì mới cần phát triển.

Share This Post